Cần hay không Tòa án hiến pháp ở Việt Nam?

17:22 |



          Hiện nay cả nước đang sôi sục trong dự án sửa đổi Hiến pháp 1992, cùng với nhiều ý kiến đóng góp tích cực nhằm hoàn thiện Hiến pháp cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, thúc đẩy đất nước phát triển thì các nhà “dân chủ” đang lên tiếng đòi hỏi phải lập cái gọi là Tóa án Hiến pháp. Vậy Tòa án Hiến pháp là gì? Việt Nam có cần phải có cái gọi là Tóa án Hiến pháp hay không?
          Theo từ điển Wikipedia: “Tòa án hiến pháp hay tòa bảo hiến là một tòa án có liên chủ yếu đến luật hiến pháp. Thẩm quyền chính của nó là quyết định các luật bị vi phạm hoặc vi hiến hay không, ví dụ chúng có xung đột với các quyền và quyền tự do do hiến pháp thiết lập hay không”
          Dựa vào khái niệm này ta có thể thấy Tòa án Hiến pháp là cơ quan được thành lập với mục đích bảo vệ Hiến pháp, đảm bảo các quyền được quy định trong văn bản tối cao này. Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có Hiến pháp và mỗi một quốc gia tùy theo đặc thù mà có cơ chế bảo vệ Hiến pháp của mình. Có một số quốc gia thành lập riêng cho mình những cơ quan chuyên trách để bảo vệ Hiến pháp (Tòa án Hiến pháp) như Đức, Pháp, Áo,...còn phần lớn các quốc gia còn lại thì quy định trách nhiệm là toàn dân. Tại sao có sự khác biệt này???
          Ở các quốc gia như Đức, Pháp… thì chế độ của họ là đa đảng, cứ sau một thời gian thì có sự thay đổi đảng cầm quyền, và đảng mới lên sẽ làm những điều mà đem lại lợi ích tối đa cho họ, nếu không có cơ quan giám sát Hiến pháp riêng thì cứ mỗi kỳ bầu cử sẽ có một bản Hiến pháp mới do đó không đảm bảo được tính ổn định của đất nước. Vì vậy ở các quốc gia này tồn tại một thể chế độc lập để đảm bảo các đảng cầm quyền không vi Hiến. Nói như thế không có nghĩa là tất cả các quốc gia đa đảng đều có Tòa án Hiến pháp. Hiện nay theo thống kê của Wikipedia thì chỉ có khoảng tầm 40 quốc gia có Tòa án Hiến pháp và một số quốc gia có cơ chế bảo vệ Hiến pháp thông qua Tòa án tối cao, còn phần lớn các quốc gia khác thì không. Ở nước ta thì chính thể là một Đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó chính trị luôn có sự ổn định. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam, vì thế lợi ích của Đảng là lợi ích của số đông quần chúng nhân dân, điều này đảm bảo Hiến pháp luôn được đảm bảo, vì thế ở nước ta không cần phải có một cơ quan riêng biệt như Tòa án Hiến pháp bảo vệ không cho vi Hiến. Cơ chế bảo Hiến ở nước ta là cơ chế giám sát tương đối tòan diện. Người ta gọi cơ chế bảo hiến theo việc giám sát như thế này là mô hình Quốc hội vì Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối vơi toàn bộ họat động của Nhà nước và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Bên cạnh đó, các cơ quan khác cũng thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và giám sát các văn bản quy phạm pháp luật khác để nó không trái với nội dung cũng như tinh thần của Hiến pháp. Cụ thể, cơ chế giám sát đó được thể hiện chi tiết qua những quy định sau đây trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001):
          - Điều 83: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
          Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp...
          Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước".
          - Điều 84: "Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
          1- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
          2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;...
          9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;      ...
          13- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;"
          - Điều 91: "Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:...
          3- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;...
          5- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
          6- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân"
          - Điều 94, 95 quy định Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực mà mình phụ trách.
          - Trong các chế định Chủ tịch nước, chính phủ, tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, hiến pháp cũng quy định Chủ tịch nước, chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân bảo vệ Hiến pháp thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
          Không những vậy, pháp luật hiện hành có quy định cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp thông qua việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật - một trong những nội dung quan trọng nhất của cơ chế bảo hiến. Theo đó, Quốc hội thực hiện quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật của chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, chính phủ, thủ tướng chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và có quyền bãi bỏ căn bản của các cơ quan này nếu văn bản đó được ban hành trái với với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ, thủ tướng chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và có quyền đình chỉ văn bản của những cơ quan này nếu trái Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của quốc hội có trách nhiệm bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với cá dự án luật, pháp lệnh khi trình Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua. Thủ tướng có việc đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân và chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, đình chỉ thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nếu nó trái Hiến pháp. Hội đồng nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và có quyền bãi bỏ nếu trái Hiến pháp. Chủ tịch ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình và văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp.
          Qua các quy định trên ta có thể thấy rằng Việt Nam đã có một cơ chế giám sát toàn diện và đầy đủ, ở đây nhân dân có thể thực hiện quyền giám sát thông qua đại diện ưu tú nhất của họ là các đại biểu Quốc hội, và chỉ có Quốc hội mới có quyền đưa ra những phán quyết liên quan đến Hiến pháp. Đồng thời Hiến pháp nước ta đã quy định trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp không phải chỉ của một cơ quan hay một bộ phận nào hết, ai cũng có trách nhiệm và quyền được bảo vệ Hiến pháp, đây là cơ chế thuận lợi để phát huy tính dân chủ của nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
          Với cơ chế bảo vệ như trên, Việt Nam hoàn toàn đảm bảo được cơchế  bảo Hiến. Vì vậy không cần thiết phải  lập Tòa án Hiến pháp, bắt chước một cách máy móc mô hình của các nhà nước Âu - Mỹ có chế độ chính trị và điều kiện kinh tế xã hội khác nước ta??? Phải chăng mục đích của các nhà “dân chủ” không phải là muốn bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ sự ổn định chính trị của đất nước, vì mục tiêu dân chủ và phát triển mà còn có mục đích nào khác đây???
          Kinh Kha
Read more…

Từ vụ khủng bố ở Boston – Suy nghĩ về nước Mỹ

17:21 |


Bấy lâu nay nước Mỹ vẫn thường tự hào mình là một quốc gia dân chủ, văn minh, là hình mẫu của xã hội loài người hiện đại với các giá trị về nhân quyền luôn được đảm bảo. Từ đó nước Mỹ tự cho mình “cái quyền” được can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ nước nào trên thế giới miễn là ở nơi đó Mỹ cảm thấy có “sự vi phạm nhân quyền”. Với luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” Mỹ sẵn sàng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, nhất là một số nước Mỹ không “thiện cảm” như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Syri… dưới chiêu bài “bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền con người”... Nhiều người đã tự hỏi nước Mỹ quan tâm tới vấn đề nhân quyền của các nước khác như thế thì ắt hẳn tại nước Mỹ, chính phủ Mỹ quan tâm tới vấn đề quyền con người ghê lắm đây. Tuy nhiên qua vụ khủng bố đẫm máu ở Boston vừa rồi mới thấy rằng, chính ngay tại nước Mỹ nhưng quyền cơ bản nhất của con người đó là quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của người dân cũng chưa được chính phủ Mỹ bảo đảm. Một vụ khủng bố bất ngờ với 3 nạn nhân thiệt mạng và nhiều người khác bị thương làm rúng động nước Mỹ. Còn nhớ hơn chục năm về trước vụ khủng bố ngày 11/9 cũng đã làm rúng động không chỉ cả nước Mỹ mà cả thế giới. Những vụ khủng bố như thế này làm người dân Mỹ bàng hoàng và khiến cho dư luận quốc tế đặt ra nhiều câu hỏi về cái gọi là “giá trị nhân quyền” của nước Mỹ. Nếu chính phủ Mỹ thật sự đề cao vấn đề nhân quyền như thế thì tại sao trước hết chính phủ Mỹ không thể đảm bảo cho công dân của chính nước mình được hưởng thụ quyền cơ bản nhất là quyền sống một cách đàng hoàng, an tâm. Nước Mỹ vẫn tự hào mình là nước có nền an ninh tốt nhất thế giới nhưng những vụ khủng bố đó lại xảy ra chính ngay trong lòng nước Mỹ. Để rồi giờ đây người dân Mỹ ra đường, tham dự các sự kiện có tính chất đông người là lại nơm nớp lo sợ mình có thể “về với ông bà” bất kỳ lúc nào. Có người đã nói vui rằng muốn sống an toàn ở nước Mỹ thì lúc nào cũng phải mặc áo giáp chống đạn và đội mũ bảo hiểm. Phải chăng những điều mà chính phủ Mỹ nói đang trái với những thực tế đã và đang diễn ra tại nước họ. Trong khi đó tại Việt Nam một nước mà Mỹ vẫn thường hay cho rằng là một quốc gia “vi phạm nhân quyền” thì người dân Việt Nam vẫn đang hàng ngày, hàng giờ được thụ hưởng đầy đủ quyền con người. Người dân ra đường vẫn đội mũ bảo hiểm nhưng đó là để thể hiện một nếp sống văn minh và để bảo vệ an toàn khi tham gia giao thông chứ không phải như người dân Mỹ, đội mũ bảo hiểm vì sợ khủng bố. Với một nền chính trị ổn định, trật tự kỷ cương được đảm bảo, người dân Việt Nam và cả du khách nước ngoài hoàn toàn yên tâm khi sinh sống, làm ăn, du lịch, công tác tại Việt Nam.
Chính vì lẽ đó thiết nghĩ nước Mỹ trước hết hãy cố gắng đảm bảo an toàn cho chính người dân của nước Mỹ thay vì “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, lại “quan tâm quá mức” và can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.
Người viễn xứ


Read more…

VIỆT NAM ƠI XIN ĐỪNG LÀM CON VẸT

15:49 |




Ai cũng biết vẹt là loài nổi tiếng với khả năng bắt chước. Nó bắt chước rất nhanh. Có những con vẹt chỉ nghe qua người nói một vài lần hay làm một vài động tác là có thể bắt chước làm lại được ngay. Tuy nhiên đó chỉ là sự bắt chước một cách vô thức chứ không hề có tư duy. Vì thế dân gian ta vẫn hay có câu ví “nói như vẹt” hay “học vẹt” để chỉ những người bắt chước người khác một cách máy móc, nhắc lại, nhại lại người khác mà không hề có suy nghĩ, tư duy, nhận thức của riêng mình. Nói khác đi đó là kiểu “rô bốt”. Đáng buồn thay khi từ chuyện con vẹt tôi lại nghĩ đến đất nước Việt Nam tươi đẹp của mình. Chúng ta biết rằng hiện nay đất nước đang tích cực lấy ý kiến để tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Bên cạnh những ý kiến đóng góp đúng đắn, thể hiện được sự suy nghĩ thấu đáo và sự tâm huyết với đất nước thì cũng có những ý kiến tôi không biết là do tầm suy nghĩ hạn chế hay vì một mục đích nào khác mà đòi hỏi ở Việt Nam cần phải thành lập Hội đồng Hiến pháp hay thậm chí là lập Tòa án Hiến pháp. Xoay quanh vấn đề này một số người cũng cho rằng quy định về Hội đồng Hiến pháp hay Tòa án Hiến pháp là một bước tiến trong quá trình lập hiến ở Việt Nam. Tuy nhiên theo quan điểm của cá nhân tôi, qua tìm hiểu tôi được biết việc lập Tòa án Hiến pháp chỉ thường phổ biến ở các nước theo chế độ đa đảng. ở những nước này, cứ sau một thời gian thì có sự thay đổi đảng cầm quyền, và đương nhiên đảng mới lên sẽ làm những điều mà đem lại lợi ích tối đa cho họ. Chính vì vậy nếu không có cơ quan giám sát Hiến pháp riêng thì việc vi hiến sẽ xảy ra phổ biến và cứ mỗi kỳ bầu cử sẽ có một bản Hiến pháp mới do đó không đảm bảo được tính ổn định của đất nước. Do đó việc lập Tòa án Hiến pháp là phù hợp để đảm bảo các đảng cầm quyền không vi Hiến. Tuy nhiên cũng không phải là tất cả các quốc gia đa đảng thì đều có tòa án hiến pháp mà cũng chỉ có một số quốc gia thành lập Tòa án Hiến pháp. Còn ở Việt Nam chúng ta chỉ có vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và cũng chính vì nhờ vào vai trò lãnh đạo của Đảng mà hiện nay chúng ta đang đạt được rất nhiều thành tựu nhất là sự ổn định về chính trị. Việt Nam không thực hiện cơ chế đa đảng nên không cần thiết phải lập Hội đồng Hiến pháp hay Tòa án Hiến pháp. Còn đối với vấn đề bảo vệ Hiến pháp, phòng ngừa những hành vi vi hiến thì Việt Nam đã và đang thực hiện giám sat theo mô hình Quốc hội. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ họat động của Nhà nước và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Bên cạnh đó, các cơ quan khác cũng thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và giám sát các văn bản quy phạm pháp luật khác để nó không trái với nội dung cũng như tinh thần của Hiến pháp. Ngay trong Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 (được bổ sung năm 2001) đã quy định rõ: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp... Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước". Hay như tại Điều 84 cũng quy định: "Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn như: - Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; 2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;... Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;…Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;"… Như vậy chúng ta thấy với vai trò chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội như vậy đã đảm bảo cho việc bảo vệ được Hiến pháp và thực tiễn ở Việt Nam thời gian qua cũng chứng minh hầu như không có các hoạt động vi hiến. Chính vì vậy việc cố tình đưa ra vấn đề thành lập Hội đồng Hiến pháp hay Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam phải chăng là một sự bắt chước máy móc mô hình của nước ngoài. Cần nhớ rằng Việt Nam có các đặc thù riêng về về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… so với các nước khác. Do đó không thể áp dụng một cách máy móc các mô hình của nước ngoài mà không tính đến các yếu tố đặc thù đó được. Nếu chúng ta vẫn áp dụng máy móc các mô hình đó thì Việt Nam khác gì một chú vẹt chuyên bắt chước người khác. Là một người dân Việt nam yêu nước, cùng lòng tự hào dân tộc tôi không hề muốn thấy đất nước Việt Nam tươi đẹp lại trở thành một chú vẹt sặc sỡ với khả năng bắt chước và trở thành một “đồ chơi”, “thú tiêu khiển” trong con mắt người khác.
Người viễn xứ

Read more…

NỖI ÁM ẢNH VỀ BOM MÌN CÒN SÓT LẠI

14:30 |


Đất Mẹ

         Chiến tranh kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đã lùi xa trên đất nước ta cũng đã gần 40 năm, song nỗi đau về cuộc chiến ấy vẫn còn đó. Nỗi đau mất mát ấy không chỉ là hàng triệu người Việt Nam đã hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc;  nỗi đau ấy còn hiển hiện trên những cơ thể bị dị tật bởi di chứng của chất độ da cam/dioxin mà ngày nay nó vẫn âm ỉ sang các thế hệ khác. Và còn có một nỗi đau khác mang tên “Bom mìn, vật nổ”, vẫn đang từng ngày, từng giờ rình rập, ám ảnh con người trên nhiều vùng đất của Tổ quốc ta.
Theo kết quả của bản báo cáo “Khảo sát Kỹ thuật và Đánh giá tác động của bom mìn vật nổ ở Việt Nam, Giai đoạn 1” do Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn (thuộc Bộ tư lệnh Công binh) BOMICEN và Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF) thực hiện với sự tài trợ của Văn phòng Tháo gỡ và Hủy bỏ vũ khí Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong số hơn 15 triệu tấn bom mìn quân đội Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam, có đến 5 – 10% không phát nổ.

Một số lượng lớn bom mìn vẫn chưa phát nổ khi quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam

       Hiện tại số lượng bom đạn còn sót lại sau chiến tranh Việt Nam còn khoảng 800.000 tấn (bao gồm cả bom, mìn, tên lửa, đầu đạn pháo, cối và vật nổ khác… nằm ở các độ sâu khác nhau). Và hậu quả là từ sau năm 1975, cả nước có hàng nghìn người chết, trong số đó nhiều người trở nên tàn phế vĩnh viễn – do bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh.Như vậy, số lượng bom mìn, đạn dược mà Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam nhiều gấp khoảng 4 lần so với Chiến tranh Thế giới lần thứ II và gấp 12 lần so với chiến tranh Triều Tiên, bình quân 46 tấn/km2 tương đương 280 kg/người.
      Con số về số lượng bom mìn mà đế quốc Mỹ đã sử dụng trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam đã phần nào cho thấy được sự tàn khốc thế nào của cuộc chiến tranh mà nhân dân Việt Nam đã phải chiệu đựng, một cuộc chiến có thể nói là tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh đương đại.
      Theo ước tính sơ bộ của Trung tâm Công nghệ xử lý Bom mìn – Bộ Tư lệnh Công binh, diện tích hiện còn bom mìn, vật nổ sót lại sau chiến tranh tại Việt Nam khoảng 6,6 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tích cả nước. Tổng số các loại đất canh tác hiện còn bị bỏ hoang do còn nhiều bom mìn, vật nổ chưa nổ khoảng 435.900ha, chiếm 7% tổng diện tích đất đai còn sót bom mìn, vật nổ chưa nổ. Những con số này cho thấy bom mìn, vật nổ sau chiến tranh có tác động trực tiếp tới đời sống của người dân Việt Nam.

       Không chỉ hàng vạn hecta đất nông nghiệp đất thổ cư không thể phục vụ sản suất và sinh sống vì bị ôi nhiễm bom mìn mà còn đó là sự mất mát về tính mạng nghiêm trọng của nhân dân vùng bị ảnh hưởng, trong số đó phần nhiều lại là trẻ em
       Kể từ khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, bom mìn, vật nổ nằm rải rác trên cả nước đã gây thương vong cho hơn 100,000 người, trong số đó nhiều người trở nên tàn phế vĩnh viễn

Nhiều người phải chiệu thương tật suốt đời
        Mỗi năm, Bộc quốc phòng và các tổ chức chuyên môn đã rà phá được hơn 100 ha đất đai có bom mìn, trong 5 năm trở lại đây (từ 2008 - 2012) số lượng bom mìn rà phá được là hơn 570.000 ha.
             



bộ đội công binh đã nỗ lực vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy, làm sạch nhiều vùng đất chết
        Khắc phục hậu quả bom mìn sót lại sau chiến tranh là công việc có yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại và cần thời gian dài với nguồn kinh phí rất lớn. Đã có nhiều chiến sỹ hi sinh trong khi làm nhiệm vụ rà phá bom mìn sau chiến tranh.
        Tuy công việc rà phá bom mìn sau chiến tranh là hết sức khó khăn và tốn kém, xong đây là nhiệm vụ vô cùng cần thiết và cần đẩy nhanh quá trình hơn nữa, không chỉ cần sự quan tâm đầu tư từ nhà nước mà cũng rất cần sự quan tâm giúp sức của cộng đồng trong cả nước và các tổ chức vì cộng đồng trên thế giới. Có như vậy những người dân vùng bị ảnh hưởng mới nhanh chóng ổn định sinh sống và phát triển được!
Nguồn: nguoicondatme.blogspot.com
Read more…

ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM – ĐÓ SẼ LÀ NHỮNG ĐẢNG NÀO

08:45 |

Thời gian vừa qua, đặc biệt là liên quan tới việc lấy ý kiến nhân dân vào bản dự thảo Hiến pháp năm 1992, có một số cá nhân, có thể là do quan điểm, tư tưởng đối lập, thù địch với Nhà nước Việt nam hoặc do ấu trĩ về chính trị mà “kêu gào” đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 ở trong Hiến pháp, đòi Việt Nam phải thực hiện Đa nguyên, đa đảng, phải cho phép các đảng phái chính trị khác được ra đời và tự do cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam. Về vấn đề này cũng đã có nhiều bài viết phân tích tính tất yếu về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về lý do tại sao Việt Nam không cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Ở đây tôi chỉ muốn bàn tới một khía cạnh khác đó là nếu Việt nam thực hiện đa đảng thì ngoài Đảng Cộng sản Việt nam sẽ là các tổ chức, đảng phái khác nào và liệu các tổ chức, đảng phái ấy có thực sự vì dân, vì nước hay không?



Đối với vấn đề này qua tìm hiểu một số thông tin thấy rằng thời gian vừa qua cũng có một số tổ chức, “đảng phái” tuyên bố hình thành và đòi được công khai hóa, hợp pháp hóa tại Việt Nam như Hội nhân dân Việt nam giúp Đảng chống tham nhũng, Khối 8406, Đảng Dân chủ Việt Nam XXI… Tuy nhiên qua tìm hiểu mới thấy những người tham gia các tổ chức này, “đảng phái” thật tâm vì dân, vì nước thì ít mà “đầu cơ chính trị”, “hoạt động kiếm tiền thì nhiều”. Danh sách những người tham gia rặt toàn là những phần tử phản động, thù địch với Nhà nước VIệt nam, ôm chân các thế lực thù địch nước ngoài tiến hành nhiều hoạt động phản dân, hại nước. Ví dụ:
Hội nhân dân Việt Nam giúp Đảng chống tham nhũng – Đây là nơi tập hợp toàn những phần tử khiếu kiện lỳ, khiếu kiện dài ngày. Mặc dù đã được các cấp chính quyền giải quyết nhưng vẫn khiếu kiện lỳ nhằm kiếm tiềm từ việc khiếu kiện của mình. Với những con người như thế này thử hỏi trí tuệ đâu mà đòi lãnh đạo đất nước?????????/ Thật nực cười.
Khối 8406 với những cái tên như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Phan Văn Lợi, Nguyễn Xuân Nghĩa… Mà họ là ai? ở đây chỉ xin trích một vài thông tin về “thủ lĩnh” của tổ chức đó là Nguyễn Văn Lý, một linh mục trong Đạo Thiên chúa nhưng vẫn thường được mọi người dành tặng cho câu “chiếc áo choàng không làm nên thầy tu”. Sinh ngày 15/5/1946 tại xã Vĩnh Chấp, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, học xong bậc phổ thông, Nguyễn Văn Lý vào tu tại tiểu chủng viện - rồi sau đó là đại chủng viện Huế. Năm 1974, ông ta được thụ phong linh mục tại Sài Gòn.Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thay vì chuyên tâm vào công việc tôn giáo, sống tốt đời, đẹp đạo, thì Nguyễn Văn Lý lại có tham vọng chính trị với mong muốn mình sẽ trở thành một “lãnh tụ”, một “ngọn cờ” chống Cộng. Tiếp xúc với giáo dân, ông ta có những lời lẽ công khai chống lại chính quyền cách mạng, xuyên tạc đường lối chính sách. Vì thế, từ năm 1975 đến  1977, Nguyễn Văn Lý nhiều lần bị xử lý hành chính vì tội phản tuyên truyền, thậm chí có lần còn bị giam 4 tháng. Đến năm 1983, do liên tục tái phạm, coi thường luật pháp, Nguyễn Văn Lý bị Tòa án nhân dân (TAND) Thừa Thiên - Huế xử phạt 10 năm tù vì tội “Phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân”. Tháng 12/1992, Nguyễn Văn Lý mãn hạn tù. Do vẫn còn phải chịu 4 năm quản chế hành chính nên tháng 7/1995, Nguyễn Văn Lý được bố trí về cư trú tại họ đạo Nguyệt Biều, thuộc xã Thủy Biều, TP Huế.
Được bọn phản động lưu vong ở nước ngoài phong làm cố vấn “ủy ban tự do tôn giáo, cho Việt Nam”, cuối năm 2000, Nguyễn Văn Lý dấn thêm một bước là kích động giáo dân ký đơn đòi lại 1.905m2 đất vốn là của Giáo hội Thiên Chúa giáo - nhưng đã giao cho hợp tác xã quản lý từ năm 1975 - rồi Lý cho người ra canh tác trên mảnh đất ấy, bất chấp sự hòa giải của chính quyền. Bên cạnh đó, ông ta viết và tán phát những tài liệu như “tuyên ngôn 10 điểm”, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp tôn giáo, tài liệu “lời chứng” kêu gọi xóa bỏ chế độ Cộng sản ở Việt Nam, kêu gọi Chính phủ Mỹ không ký Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ. Tháng 2/2001, Tòa Tổng giám mục Huế điều chuyển Nguyễn Văn Lý về xứ đạo An Truyền, thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tại đây, ông ta vẫn tiếp tục sử dụng tòa giảng để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, kích động giáo dân chống lại chính quyền.Nghiêm trọng hơn, Nguyễn Văn Lý còn móc nối với một số cá nhân cực đoan trong các tôn giáo khác để bàn tính việc cho ra đời cái gọi là “ủy ban liên tôn đấu tranh vì tự do tôn giáo”, mà Nguyễn Văn Lý sẽ đảm nhận vai trò tổng thư ký.Trước những hành vi vi phạm pháp luật liên tục, và có hệ thống, tháng 2/2001, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra quyết định quản lý hành chính đối với Nguyễn Văn Lý nhưng ông ta không chấp hành.Vì vậy, tháng 5/2001, Nguyễn Văn Lý bị bắt và đến tháng 10, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế xử phạt ông ta 15 năm tù giam cùng 5 năm quản chế vì hai tội: “Phá hoại chính sách đoàn kết”, “Không chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc quản chế hành chính”. Liªn tôc trong n¨m 2005 vµ 2006, NguyÔn V¨n Lý so¹n th¶o hµng chôc ngh×n trang tµi liÖu, cô thÓ nh­ “Tuyªn ng«n tù do d©n chñ cho ViÖt Nam”, “Lêi kªu gäi tÈy chay bÇu cö Quèc héi n¨m 2007”, “Tù do t«n gi¸o h«m nay ë ViÖt Nam”..., tÊt c¶ ®Òu cã néi dung xuyªn t¹c chÝnh s¸ch cña §¶ng, Nhµ n­íc, vu c¸o ViÖt Nam vÉn vi ph¹m nh©n quyÒn, ®µn ¸p t«n gi¸o, kªu gäi ng­êi d©n kh«ng ®i bÇu cö Quèc héi n¨m 2007.
Nghe nói có lần, qua công tác kiểm tra hành chính, cơ quan chức năng TP HCM đã phát hiện Nguyễn Văn Lý ở chung một phòng khách sạn Quyền ở số 83/1b đường Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp với một phụ nữ, mà không đăng ký giấy tờ tùy thân. Điều này là trái với giáo luật (chứng tỏ bản thân “cha” Lý cũng chẳng ra gì). Ngày 24/2/2007, Cơ quan An ninh Điều tra - Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Lý, về tội “tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, đồng thời Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng đã ra quyết định thay đổi nơi quản chế hành chính đối với Nguyễn Văn Lý. Kiểm tra chỗ ở của ông ta, cơ quan chức năng đã thu giữ 6 máy tính xách tay, 6 máy in, hàng chục điện thoại dùng vào việc kết nối với mạng Internet, 163 simcard điện thoại di động, cùng hơn 200kg giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập “đảng Thăng tiến Việt Nam”, “liên đảng Lạc Hồng”, và những thư từ trao đổi giữa Nguyễn Văn Lý và bọn phản động trong, ngoài nước...
Như vậy chỉ qua hai ví dụ thôi chúng ta cũng thấy được rõ những người đang đòi đa nguyên, đảng ở Việt Nam, họ là ai, những việc làm của họ có phải vì dân, vì nước hay không. Còn nhớ khi họ kêu gào đòi đa nguyên đa đảng họ thường lý luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng lãnh đạo đất nước, cần phải có những tổ chức đảng phái được ra đời tự do cạnh tranh thì đất nước mới phát triển được. Nhưng thử hỏi hành vi của họ có phải vì dân vì nước không hay là để đầu cơ chính trị, để kiếm tiền. Và nếu thực hiện đa đảng thì những con người như họ (người khiếu kiện lỳ, linh mục phản động, vi phạm pháp luật có hệ thống và vi phạm cả chính ngay giáo luật) liệu có khả năng lãnh đạo đất nước phát triển hay không hay chỉ đưa đất nước vào cảnh bất ổn, hỗn loạn, kém phát triển. Câu trả lời là chắc chắn những con người như họ mà lãnh đạo đất nước thì Việt Nam “lụi tàn” ngay lập tức.  Chình vì lẽ đó thiết nghĩ Việt nam không cần thực hiện đa nguyên, đa đảng mà hãy tuyệt đối tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản bởi ngoài Đảng Cộng sản ra không còn lực lương nào đủ khả năng để đưa Việt nam phát triển, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như mong mước của Bac Hồ kính yêu.
Người viễn xứ
Nguồn: vitoquocvietnam.wordpress.com
Read more…

DÂN CHỦ CÓ ĐỒNG NGHĨA VỚI VẤN ĐỀ ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG?

08:44 |

Trong quá trình lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xuất hiện những ý kiến cho rằng ở Việt Nam do thực hiện chế độ một đảng lãnh đạo cho nên xã hội không có dân chủ. Do đó, họ đề nghị cần phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, thực hiện cơ chế đa nguyên, đa đảng để đảm bảo dân chủ thực sự. Vậy thực chất của vấn đề này là gì? Đa nguyên, đa đảng có đồng nghĩa với vấn đề dân chủ không?
Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực. Nói cách khác, dân chủ là tổ chức và thiết chế của bộ máy nhà nước để trao quyền lực về tay nhân dân. Như vậy, hiểu một cách chung nhất và đơn giản nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Từ đây, có thể rút ra 3 điều căn bản liên quan hữu cơ với nhau, đó là: Một là, dân chủ là độc lập dân tộc và quyền tự quyết dân tộc; hai là, chế độ chính trị của một giai cấp nhất định và ba là, dân chủ là cơ chế thực hiện quyền làm chủ cho ai, cho giai cấp nào?



Đa nguyên chính trị là một khuynh hướng xã hội học - triết học, xuất phát từ học thuyết tuyệt đối hóa tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các nhóm, các đảng phái và các tổ chức chính trị xã hội khác nhau trong xã hội. Hệ thống đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.
Như vậy, giữa vấn đề dân chủ với vấn đề đa nguyên, đa đảng có mối quan hệ nhưng không đồng nhất với nhau. Bởi lẽ, chúng ta thấy, trong bất cứ một chế độ xã hội nào, cho dù là một đảng lãnh đạo hay nhiều đảng, khi thiết chế xã hội đó đảm bảo quyền lực thực sự quyền lực thuộc về nhân dân thì xã hội đó sẽ đảm bảo được dân chủ thực sự. Còn nhiều đảng nhưng không đảm bảo được quyền lực thực sự thuộc về nhân dân thì dân chủ thực chất cũng chỉ là sự hô hào giả hiệu mà thôi.
Về vấn đề này, chúng ta hãy xem chính người Mĩ, một đất nước thực hiện chế độ đa đảng và luôn hô hào về đa đảng, về dân chủ ở các quốc gia khác xem thực chất của nên dân chủ, của chế độ đa đảng ở nước họ như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi đó, chúng ta hãy xem người Mĩ tự nhận xét về mình “Nước Mĩ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ” (Paul Mishler - Giáo sư trường Đại học bang Indiana). Điều đó cho thấy chế độ đa đảng của nước Mĩ thực chất chỉ là một đảng, là sự cầm quyền của đảng tư sản; dân chủ ở nước Mĩ là dân chủ tư sản, không phải dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và cuối cùng, thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản.
Từ những vấn đề trên có thể khẳng định, bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền. Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào. Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nền dân chủ đó vẫn là nên dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động.
Đây là minh chứng rõ nét nhất để bác bỏ, đập tan luận điệu của những người thiếu thiện chí cho rằng ở Việt Nam muốn có dân chủ thực sự thì phải thực hiện cơ chế đa nguyên, đa đảng.
                                                        Người con đất Việt
Nguồn: vitoquocvietnam.wordpress.com
Read more…

SỰ THẬT VỀ NỀN DÂN CHỦ Ở CÁC NƯỚC TƯ SẢN VÀ CÁC NƯỚC CÓ CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG

08:43 |

Hiểu một cách chung nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Nói cách khác, dân chủ là hệ thống, cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước để trao quyền lực vào tay nhân dân. Như vậy, một chế độ xã hội có dân chủ thực sự là trong chế độ đó, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, người dân được làm chủ tương lai, vận mệnh của đất nước, dân tộc mình.

Lâu nay, các nước có chế độ đa đảng, những nước có nền dân chủ tư sản luôn tự cho mình là có dân chủ, tuyên truyền về nền dân chủ của mình, đồng thời ra sức kêu gọi, gây sức ép buộc các nước có chế độ một đảng, các nước thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa từ bỏ cơ chế hoạt động của mình, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Vậy, thực sự đằng sau những lời hô hào, kêu gọi đó là gì, ở các nước có chế độ đa đảng, những nước theo dân chủ tư sản nền dân chủ thực sự của họ như thế nào?
Có thể thấy, dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản và đồng minh với họ nhằm chống lại đông đảo những người lao động khác. Bởi vậy, nói đến dân chủ tư sản là nói đến nhà nước tư sản và thứ dân chủ dành cho một số ít người giữ địa vị thống trị xã hội, tức là giai cấp tư sản.
Về quy mô, trong nền dân chủ tư sản quyền làm chủ xã hội thuộc về số ít và phục vụ cho số ít người; về tính chất, quyền làm chủ của số ít để chống lại số đông, sự tự do chà đạp lên thân phận người khác, nền độc lập, tự do của các quốc gia, dân tộc khác; về hình thái biểu hiện, nhà nước của chỉ số ít người, tự cho mình cái quyền phán xét người khác, xâm lược nước khác, vi phạm trắng trợn nền độc lập và chủ quyền của các quốc gia, dân tộc khác.
Như vậy, có thể nói một cách khái quát, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, dân chủ chân chính là thứ bị giai cấp tư sản lợi dụng, bị biến thành thứ khác với chính nó phục vụ giai cấp tư sản.
Tại Mĩ, trong suốt hơn 200 năm qua, kể từ khi nước Mĩ ra đời (1776) chỉ có hai đảng: Đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng không ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa chúng và nếu có khác chăng thì chỉ ở tên gọi và hình thức mà thôi. Trong lúc đó, Đảng Cộng sản Mĩ, với lịch sử hơn một trăm năm, người đại diện và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của hàng triệu công nhân Mĩ và những lý tưởng cao đẹp, thì có những thời kỳ bị loại ra ngoài vòng pháp luật, các đảng viên của Đảng luôn bị đe dọa, bị ám sát và bị khủng bố. Cho đến hiện nay, Đảng Cộng sản Mĩ cũng vẫn đang loay hoay tìm cho mình một chỗ đứng trong nền đa đảng mà người Mĩ vẫn cho là dân chủ đó.
Các nước tư sản luôn cho rằng, phổ thông đầu phiếu là một trong những biểu hiện cao nhất của nền dân chủ, nhưng hãy nhìn xem ở các nước tư sản việc xác lập tư cách cử tri cũng là một quá trình vật lộn, đấu tranh không ngừng nghỉ để dành những quyền cơ bản nhất của con người. Ở Mĩ năm 1920, Anh năm 1928, Pháp năm 1944, Tây Ban Nha năm 1970, Thụy Sĩ năm 1971 người phụ nữ mới có quyền đi bầu cử. Thử hỏi xem ở các nước như Anh, Pháp, Mĩ hiện nay người da đen đã được đối xử công bằng trong xã hội chưa, hay họ phải chấp nhận những dị nghị, nạn phân biệt chủng tộc từ người da trắng. Nước Mĩ, sau hơn 200 năm tồn tại mới giám xóa bỏ đi định kiến, mặc cảm để chấp nhận một người da màu làm Ông chủ của Nhà Trắng. Như vậy, nếu nói là dân chủ, nếu nói là quyền lực thuộc về nhân dân, thì trong trường hợp này dân chủ nằm ở chỗ nào? Phải chăng như thế là dân chủ đích thực?
Mặt khác, với không ít nước tư bản, họ luôn cho rằng phải thực hiện tam quyền phân lập nhưng thử hỏi xem họ đã tam quyền phân lập hoàn toàn chưa? Với những nước này, Tổng thống sẵng sàng phủ quyết các dự luật của Quốc hội, thậm chí ở nhiều nước Tổng thống, Thủ tướng còn có quyền tuyên bố giải tán Quốc hội, khi thấy nó trái với mình. Thử hỏi trong một xã hội, khi Quốc hội, một cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước có thể sẵn sàng bị giải tán khi không phù hợp với người đứng đầu, giai cấp thống trị thì người dân nói chung và công nhân nói riêng sẽ như thế nào trong xã hội, hay họ sẽ bị “bỏ qua” bất kỳ lúc nào?
 Như vậy, thử hỏi dân chủ thực sự đối với người dân dưới thể chế này đang ở đâu, hay đây chỉ là một nền dân chủ giả hiệu, hình thức, đánh lừa mọi người, một nền dân chủ không thực tế.
                                                                 Người con đất Việt
Nguồn: vitoquocvietnam.wordpress.com
Read more…

VIỆT NAM ĐÃ TỪNG CHẤP NHẬN VÀ PHỦ ĐỊNH ĐA ĐẢNG NHƯ THẾ NÀO?

08:41 |

 Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử dân tộc, đã từng có thời kỳ trên đất nước Việt Nam tồn tại nhiều đảng phái chính trị khác nhau trong cùng một thời điểm, đại diện cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác nhau. Vậy, lịch sử Việt Nam đã từng chấp nhận và phủ định đa đảng như thế nào?



Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ quân thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - Nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử, chấm dứt hơn 20 năm loạn 12 xứ quân (từ 944 - 968); cuối thế kỷ 18 Nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn, chấm dứt hơn 100 năm nước Việt Nam bị chia cắt (Đàng Trong, Đàng Ngoài). Đây là những thời kỳ mà trên đất nước ta tồn tại nhiều phe phái khác nhau, là tiền thân của chế độ “đa đảng” ngày nay. Năm1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất các tổ chức Đảng trong cả nước. Như vậy, lịch sử Việt Nam đã có những thời kỳ cho phép nhiều đảng phái hoạt động, tuy nhiên các tổ chức đảng phái này đã không thể đảm đương sứ mệnh của mình, không thể lãnh đạo nhân dân, đất nước mình đánh thắng kẻ thù xâm lược, lãnh đạo đất nước phát triển đi lên. Trái lại, lịch sử lại cho thấy, khi nào trong lịch sử tồn tại nhiều đảng phái khác nhau, khi đó xã hội Việt Nam sẽ lâm vào cảnh loạn lạc, mất ổn định.
Hẳn những ai đã từng theo dõi lịch sử Việt Nam sẽ không thể chối bỏ được sự thật đất nước ta đã loạn lạc như thế nào khi 12 xứ quân chia nhau cát cứ các vùng lãnh thổ của đất nước, người dân đã loạn lạc, khốn khổ, đất nước mất ổn định như thế nào khi chứng kiến đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong, Đàng Ngoài và đất nước đã mò mẫm tìm đường giải thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc dành độc lập dân tộc như thế nào trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Đó là những thời kỳ trong xã hội đang tồn tại nhiều những nhen nhóm, tổ chức đảng phái khác nhau hoạt động, mà ta có thể hiểu một cách nôm na là “đa đảng”.
Những năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước lãnh đạo lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta lúc bấy giờ nhảy ra tranh đoạt vũ đài lịch sử dân tộc, đông đúc, hỗn loạn chưa từng thấy. Từ đảng của giai cấp nông dân như Nghĩa Hưng (1907), đảng của giai cấp tư sản, địa chủ như Lập hiến (1923),… tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản như Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (1927), Việt Nam quốc dân đảng (1927)… rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, như Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng; các đảng phản động, như Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)… Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ. Nhưng đất nước vẫn nô lệ, nhân dân vẫn lầm than. Và rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán.
Chính trong bối cảnh ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, không ồn ào như các đảng trên nhưng lại từng bước dành được sự tín nhiệm, yêu mến của các tầng lớp nhân dân, từng nước lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc.
Tháng 8/1945, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong những ngày đầu giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc, Đảng ta đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã có các đảng như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Quốc dân đảng tham gia. Sau này còn Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản, đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tuyên bố tự giải tán.
Toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Chế độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, nhân dân ta thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời “tự do, hạnh phúc”. Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiếp tục lãnh đạo đất nước, dân tộc dành được những thắng lợi cho lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đưa đất nước ta tiến những bước vững chắc vào quá trình hội nhập, phát triển của thế giới.
Việc Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo đất nước và dân tộc Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với hoàn cảnh, thực tế khách quan của lịch sử dân tộc, là sự thật không thể chối cãi.
                           Người con đất Việt
Nguồn: vitoquocvietnam.wordpress.com
Read more…

Tính nguy hiểm của luận điểm đòi Việt Nam thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”

08:39 |

    Hiện nay, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nhiều đối tượng thù địch, phản động, thiếu thiện chí với Việt Nam đang ra sức rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” như “khuôn vàng”, “thước ngọc”, như con đường duy nhất mà Việt Nam phải tuân theo để đảm bảo dân chủ thực sự, đảm bảo sự phát triển đi lên của xã hội. Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”.




Vậy thực chất của luận điểm này là gì? Tính chất nguy hiểm của nó như thế nào?
Có thể thấy, việc các đối tượng ra sức đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam không hẳn để nhằm giúp Việt Nam đi lên phát triển, cũng không phải giúp xã hội Việt Nam dân chủ hơn mà thực chất của luận điểm này là chúng tập trung phủ định, phản bác vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo tiền đề tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây rõ ràng là một luận điểm hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực phản động, thù địch với Nhà nước Việt Nam, âm mưu biến Việt Nam thành một nước đa nguyên, đa đảng kiểu phương Tây.
Tính nguy hiểm của luận điểm đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thể hiện:
Thứ nhất, luận điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân. Nói cách khác, đây chỉ là việc các đối tượng sử dụng cái mác “dân chủ” để đánh lừa một bộ phận quần chúng nhân dân, làm “bình phong” che chắn cho dã tâm thâm độc của mình, từ đó gây nên sự hoài nghi, ngờ vực trong các giai tầng xã hội về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tác động làm mất niềm tin vào Đảng và chế độ.
Thứ hai, thực chất của luận điểm này là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, “lái” nền dân chủ nước ta sang nền dân chủ khác, phi xã hội chủ nghĩa. Dù chúng không trực tiếp nói đến chúng ta phải thực hiện nền dân chủ tư sản, nhưng cái cách “khuyên” chúng ta thực hiện đa đảng, học tập theo các nước phương Tây, đã cho thấy thực chất đó là hướng nền dân chủ nước ta sang dân chủ tư sản.
Thứ ba, đây là luận điểm phản khoa học và phi lịch sử. Trên thực tế, không có thứ dân chủ chung chung trừu tượng, trong thời đại ngày này chỉ có thể là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. Do đó, cái gọi là dân chủ theo các tuyên truyền trên chỉ là những luận điểm phản khoa học, không có thực và phi lịch sử. Mặt khác, cái gọi là đa đảng như trong xã hội phương Tây thực chất chỉ là sự chi phối của đảng tư sản, là biểu hiện sự tranh chấp giữa các nhóm chính trị khác nhau của giai cấp tư sản. Điển hình như Mĩ, đất nước liên tục hô hào về dân chủ, về đa nguyên, đa đảng nhưng Mĩ có phải đa nguyên đâu, thậm chí Mĩ còn là một nước thực hiện cơ chế nhất nguyên một cách triệt để. Việc Đảng Dân chủ, hay đảng Cộng hòa lãnh đạo thì đó cũng chỉ là đảng của giai cấp tư sản mà thôi, nó sẽ sống chế bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp tư sản, bảo vệ cho nên dân chủ tư sản mà thôi.
Thứ tư, thực tế lịch sử tại Liên xô và Đông Âu đã chứng minh, việc những đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa mà thực hiện đa nguyên, đa đảng thì chẳng khác nào tự bắn vào chân mình, chẳng khác nào một sự tự sát. Việc Liên xô, Đông Âu thực thi dân chủ sai nguyên tắc, chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã tạo thời cơ, điều kiện thuận lợi cho kẻ địch thực hiện mưu đồ chống phá nhà nước quyết liệt hơn và hậu quả là Nhà nước Liên bang Xô viết từ thành trì của cách mạng thế giới đã sụp đổ một cách nhanh chóng. Chính sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không những kéo lùi lịch sử tại các quốc gia này mà còn đưa xã hội chủ nghĩa từ hệ thống thế giới trở thành thoái trào.
Thứ năm, nếu Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng đất nước sẽ diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, làm đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước. Khi đó ai sẽ là người chịu cảnh khốn khổ trước tiên, câu trả lời chắc chắn sẽ là nhân dân và dân tộc Việt Nam. Không những vậy, đó cũng sẽ là điều kiện để các phần tử phản động, thù địch, những “kẻ đục nước béo cò”, “theo đóm ăn tàn” trỗi dậy phá hoại đất nước ta, là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.
                                                          Người con đất Việt
Nguồn: vitoquocvietnam.wordpress.com
Read more…

Suy nghĩ gì về vấn đề đổi tên nước

17:06 |
Read more…

Bàng hoàng vụ khủng bố ở Mỹ

17:02 |


Dư luận thế giới và ở Mỹ có lẽ vẫn chưa hết bàng hoàng về vụ đánh bom tại cuộc thi Maraton ở Boston thành phố  ngày 15 tháng 01 vừa qua cướp đi sinh mạng của 03 người và làm bị thương hơn 100 người. Vẫn chưa có tổ chức nào đứng ra nhận trách nhiệm về vụ việc trên, cuộc điều tra cũng chưa chưa có kết quả khả quan. Thông tin gần đây nhất được Chính phủ Mỹ thông báo chính thức thì đây là một vụ khủng bố; và đây là một trong những vụ khủng bố mang tính chất nghiêm trọng nhất trong vòng 10 năm trở lại đây chỉ đứng sau vụ khủng bố đẫm máu ngày 11/9/2001.
Những hoạt động khủng bố là phi nhân đạo, thế giới đang lên án rất quyết liệt. Tuy nhiên, nó cũng xuất phát từ những nguyên nhân; và đối với các vụ khủng bố xảy ra nhằm vào cả Chính phủ và người dân Mỹ thì một phần nguyên nhân là do các phản ứng phụ từ các chính sách, chiến lược của Nhà Trắng trên thế giới trong thời gian vừa qua. Việc thực hiện các chính sách, chiến lược đem lại lợi ích, bảo vệ an ninh quốc gia của Mỹ đã tạo ra các làn sóng phản đối chính phủ Mỹ và dấy lên rất nhiều phong trào chống Mỹ; đặc biệt tại các nước Hồi giáo. Và từ sau một loạt các cuộc chiến tại một số quốc gia có sự tham gia của quân đội Mỹ thì các vụ khủng bố xảy ra trên đất Mỹ cũng ngày một gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Giờ đây, tâm lý người dân Mỹ đang lo lắng nhất là vấn đề an ninh nội địa, vấn đề khủng bố đe dọa trực tiếp tới sinh mạng của họ. Những chiến lược và chính sách của Mỹ trên thế giới đã va đang củng cố vị thế của Mỹ đối với thế giới, đem lại rất nhiều lợi ích cho Mỹ nhưng có lẽ chính người dân Mỹ đang phải gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề từ điều đó.
In God we trust
Read more…

Nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch, phản động ở các địa bàn chiến lược

13:56 |

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược DBHB, bạo loạn, lật đổ nhằm chống Đảng cộng sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Âm mưu cụ thể của các thế lực thù địch, phản động là chia rẽ dân tộc, gây mâu thuẫn, xung đột dân tộc để quốc tế hóa và can thiệp nhằm chống độc lập, thống nhất và sự phát triển đi lên của cộng đồng quốc gia – dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong thời gian qua, âm mưu này được thể hiện cụ thể ở các địa bàn chiến lược .


1. Vì sao gọi là các địa bàn chiến lược
Xét về mặt lãnh thổ, cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam là sự thống nhất của các vùng miền địa lý khác nhau như: Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ… Tính thống nhất của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam là quá trình xây dựng mở mang bờ cõi cùng với lịch sử chống giặc ngoại xâm qua hàng ngàn năm của các thế hệ cha ông. Trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc bành trướng, chính sách “chia để trị” đã thể hiện rõ dã tâm chia cắt đất nước của các thế lực thù địch nằm áp đặt sự thống trị lâu dài đối với nước ta. Hiện nay, trong chiến lược diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ chế độ xã hội ở Việt Nam, âm mưu kích động chủ nghĩa ly khai, tự trị, tách các vùng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam vẫn không thay đổi mà biểu hiện rõ nét ở các địa bàn chiến lược. Gọi là địa bàn chiến lược đơn giản chỉ vì đây là các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng của đất nước và quan trọng hơn là các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá đối với các địa bàn này nhằm thực hiện âm mưu thâm độc của chúng ở: Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ.
2. Hoạt động của các thế lực thù địch, phản động ở các địa bàn chiến lược trong thời gian qua
-  Gợi lại lịch sử để xuyên tạc quá khứ, khơi gợi vấn đề dân tộc trong quan hệ với vấn đề lãnh thổ bằng các quan điểm phản động như: Một quốc gia một dân tộc, dân tộc xuyên quốc gia, quyền tự quyết dân tộc… mà mục đích cuối cùng là tách các vùng chiến lược này ra khỏi cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, đòi quy chế ly khai, tự trị cho một vùng dân tộc nào đấy. Được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài, hàng loạt tổ chức phản động núp dưới chiêu bài dân tộc đã ra đời với mục tiêu đòi ly khai, tự trị dân tộc, liên tiếp mở các chiến dịch chuyển lửa về quê hương, tích cực cổ súy cho các hoạt động chống phá Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Liên Đoàn Khơme Krôm, Nhà nước Đêgar độc lập, Văn phòng Chămpa quốc tế (IOC), Vương quốc Mông ở Tây Bắc… Một số tổ chức đã tham gia vào UNPO (Tổ chức các quốc gia và dân tộc không hiện diện) nhằm từng bước quốc tế hóa vấn đề dân tộc để đòi quyền tự quyết, tách các vùng chiến lược ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
- Can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước: Hàng năm, giữa các cuộc đối thoại về nhân quyền, trên các diễn đàn của Liên Hợp Quốc các thế lực thù địch, bọn phản động không ngừng cao giọng vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người DTTS, đưa vấn đề dân chủ nhân quyền (tập trung tại các địa bàn chiến lược) làm tiêu chí để đàm phán và ra yêu sách về ngoại giao. Bên cạnh đó là hàng loạt các Dự luật được tô vẽ để bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, làm thế giới hiểu sai lệch về tình hình Việt Nam tại các địa bàn chiến lược.
- Kích động các hoạt động chống phá Đảng, Nhà Nước: các thế lực thù địch tiếp tục hỗ trợ, nuôi dưỡng các tổ chức phản động lưu vong, kích động các hoạt động như: Phá rối an ninh, Bạo loạn, hoạt động Phỉ… gây mâu thuẫn xã hội, làm mất ổn định chính trị ở trong nước, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ.
- Dùng niềm tin tôn giáo làm công cụ để tập hợp lực lượng, ru ngủ đồng bào bằng chiêu bài bảo vệ đạo pháp, bảo vệ quyền tự do tôn giáo… Với âm mưu tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số, hàng loạt hệ phái Tin Lành bằng nhiều hình thức đã được truyền bá vào các địa bàn chiến lược, ru ngủ niềm tin của quần chúng bằng ảo vọng về một “Vương quốc trên thiên đàng”, tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước để lôi kéo vào các hoạt động chống phá mà điển hình là: Tin Lành Đêgar ở Tây Nguyên, Tin Lành ở Tây Bắc.
- Triệt để lợi dụng những khó khăn, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước để vu cáo, quy kết bản chất chế độ, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, ảnh hưởng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Tính thống nhất của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam
Nước ta được khai sinh bằng một hành động thống nhất: 15 bộ lạc hợp lại thành nhà nước Văn Lang. Bước phát triển lớn đầu tiên của giang sơn ta cũng là một hành động thống nhất: tộc Lạc Việt và tộc Âu Việt hợp lại thành nước Âu Lạc tiếp nối nước Văn Lang.
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi, thơ thần của Lý Thường Kiệt chính là tiếng dân khẳng định tính thống nhất đó. Ai xâm phạm độc lập chủ quyền và thống nhất của Việt Nam, kẻ ấy phải thua, phải chết. Số phận cuối cùng của các đạo quân xâm lược, đã rõ rồi. Số phận của bọn chia cắt đất nước, cần điểm lại để làm gương phản diện.
- Mười hai sứ quân bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt. Nước nhà thống nhất đã xuất hiện ngay từ chiến thắng của Ngô Quyền, nay trở lại thống nhất sau vài mươi năm phân liệt. Được như vậy, một phần hẳn là do tài trí của Đinh Tiên Hoàng, phần chính do lòng dân muốn thống nhất, không chịu chia cắt.
- Nguyễn – Trịnh phân tranh làm yếu đất nước, làm khổ nhân dân. Cả Nguyễn lẫn Trịnh bị Tây Sơn tiêu diệt chính vì cái tội làm phân tranh trước hết. Nước nhà trở lại thống nhất, sức mạnh tinh thần và vật chất dồi dào, nên ba mươi vạn quân Mãn Thanh tháo chạy mà không dám quay đầu.
- Chuyện xưa đã rõ. Chuyện nay còn rõ hơn. Theo âm mưu Pháp, Nguyễn Văn Thinh bày trò: “Nam Kỳ tự trị”. Nam Kỳ tự trị sớm đưa Nguyễn Văn Thinh đến treo cổ bằng dây điện.
- Ngô Đình Diệm theo lời Mỹ, từ chối hiệp thương, cố biến giới tuyến tạm thời giữa hai miền thành biên cương lâu dài giữa hai nước. Cuối cùng, Diệm bị giết chết trong tiếng nguyền rủa của toàn dân.
Từ những ngày xa xưa ấy, thống nhất đã thành truyền thống, hơn như thế, thống nhất đã thành bản tính của dân tộc, của đất nước ta. Cùng với những thành tựu về mọi mặt ở các địa bàn chiến lược trong thời gian qua đã vô hiệu hóa âm mưu của các thế lực thù địch, phản động; cùng lịch sử khẳng định tính thống nhất của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Những kẻ đang ấp ủ âm mưu cố tình chia cắt đất nước, sẽ phải chịu sự nguyền rủa của lịch sử đơn giản chỉ vì: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. 
HOA ĐẤT
Nguồn: nguoicondatme.blogspot.com
Read more…

Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012 Việt Nam Cộng Hòa 2012